Ads 468x60px

Labels

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Sinh tồn trong núi rừng hoang dã

Hang đá thường cuốn hút bản năng gốc của người Rục.

Những người Rục nhớ hang

Người Rục ở bản Ón, Yên Hợp, Mò O Ồ Ồ (thuộc xã Thượng Hóa, Minh Hóa, Quảng Bình) nay đã được cấp nhà mới thay vì ở hang đá, họ có thêm phương thức sinh sản mới nhờ quân nhân biên phòng dạy làm lúa nước, nhưng bản năng gốc của họ vẫn còn. Ấy là nhớ hang đá – nơi tổ sư của họ từng mặc khố để săn bắn, hái lượm, trí khôn của họ nằm hết ở bếp lửa và các động tác thành thục leo qua núi đá...

Hang đá – đó là cỗi nguồn ông cha, là nơi họ sinh ra, lớn lên và trưởng thành. Ngày nay, trong số những người còn trở lại với hang đá cho thỏa nỗi thèm nhớ đó là vợ chồng ông bà Cao Chơn, 85 tuổi ở bản Ón. Mặc dù, hai vợ chồng già của tộc người Rục này được cấp nhà xây, tương trợ gạo hàng tháng, nhưng hang Tò Pộc, hang Ró, hang Ka Chắp và hàng chục mái đá khác vẫn là nơi để hai vợ chồng Cao Chơn làm chốn nghỉ ngơi khi trở lại rừng lúc nhớ nhung.

Trưởng bản Ón, Trần Xuân Tư nói: “Vợ chồng ông bà Cao Chơn gần như tháng nào cũng vô hang, mỗi lần cả chục ngày, có lúc đi một đợt mấy tháng”. Chúng tôi vào rừng, nhiều lần mong được diện kiến đôi vợ chồng “người hang”. Cao Liệu, người dẫn đường nói: “Có khi may thì gặp được, chứ họ ở nhiều hang, từ hang này qua hang kia cả ngày đường”. Nhưng may mắn cũng đã đến, khi bóng nắng bị lá rừng che khuất, trên ngọn núi đá vôi xuất hiện hai bóng người già. Họ tuy tuổi cao, nhưng vẫn tráng kiện, chân bước trên đá vôi sắc cạnh, nhưng vẫn vững chãi và thoăn thoắt. Cao Liệu nói: “Họ được xây nhà từ lâu nhưng hang đá họ ưng hơn”.

Qua lời dịch của Cao Liệu mới biết, hai ông bà chỉ có hai con dao nhỏ đeo ở lưng hông. Dưới mỗi mái đá hoặc hang đá trong lịch trình của họ đều có cái nồi nhỏ từ biđông bỏ đi, hoặc ănggô lượm từ rừng là sản phẩm của bộ đội ngày xưa hành binh. Trước khi bà nhóm lửa, ông Cao Chơn đi quanh hang đá quá chừng 200m, lần tìm những con ốc đá để nướng ăn, mỗi bữa như thế, họ chọn 20 con. Bà nướng ốc, ông đi đặt bẫy tại một khe nứt cạnh hang đá. Bẫy đập làm từ dây leo rừng, một cành cây. Sau bẫy, họ bỏ vài con ốc nướng làm mồi, sáng hôm sau thức dậy, ông bà Cao Chơn có một bữa ăn sáng rất thiên nhiên là con chuột núi khá to. Và khi bữa ăn sáng đã xong, ông bà lại rời đi để đến hang đá mới khi ánh nắng cuối ngày lại tắt. Cao Liệu giảng giải, nơi đến tiếp theo của ông bà là thức uống của rừng, rất tự nhiên. Đó là rượu đoác, thứ rượu không bao giờ nấu, nó làm từ cây đoác trên núi đá, ngọn của nó được vít xuống một hố đá vôi,  lap dat camera quan sat gia re  ông bà sẽ chặt ngọn cho nước màu trắng đục chảy vào hố đá được chọn, chừng khoảng vài lít nước. Một loại vỏ cây có xúc tác như men được bỏ vào, chừng hai giờ đồng hồ, nước cây đoác dậy mùi thơm của rượu rừng. Họ lấy lá cây vấn lại làm cốc và múc uống, uống cho kỳ say rồi lăn ra ngủ trong sự bảo bọc của tán rừng. Và điều lạ, họ không bao giờ ngủ nằm, mà ngủ ngồi suốt đêm. Đấy là một trong những phương cách độc đáo của kỹ năng sinh tồn của tộc người Rục mà nhiều khi người miền xuôi cho đó là lạc hậu.

Dòng nước của người Mày

Xa trên dãy núi Giăng Màn (Dân Hóa, Minh Hóa, Quảng Bình) có tộc người Mày sống chân tình, hào hiệp. Họ tin rằng thế cuộc người Mày đàn ông là chiến binh từ xa xưa có nghĩa vụ bảo vệ nguồn nước đầu tiên của sông Gianh và chở che những tộc người anh em khác như người Khùa, người Mã Liềng theo đường phân thủy dưới núi. Hồ Khiên ở vùng bản Dộ trong hệ Giăng Màn nói với chúng tôi: “tiên sư người Mày sinh ra chọn vùng đất ở rất cao, cao như sát trời, quanh năm mây phủ. Nơi đầu nguồn của mọi nguồn nước”.

Nơi ở của người Mày là một quả đồi hùng vĩ giữa lòng chảo Giăng Màn, hai bên có suối Hoong Trì Pầu và Hoong Pà Ài, đó là nguồn cơn trước nhất của nước sông Gianh tuôn ra Biển Đông. Theo Hồ Khiên, hàng năm họ vẫn đi mở nguồn nước bằng các lễ cúng ý thức, ở đó họ nhìn nhận không ai mông muội gây cho nguồn nước vẩn đục. Ở đó họ thề với nhau mãi nhóng nguồn nước luôn sạch để những tộc người anh em khác được thừa hưởng.

Khi các nhà dân tộc học vào với người Mày sưu tầm sinh hoạt văn hóa của họ đã hết sức sửng sốt với tiếng chày giã gạo thình thịch không tiền khoáng hậu của tộc người này. Nếu cối giã của người Vân Kiều dọc đường Trường Sơn nằm sát mặt đất có tiếng bùm bụp cô đơn thì cối giã của người Mày được các nhà dân tộc học xem là sự sáng tạo cao hơn nguyên thủy, xé toang sự u muội của núi rừng, họ tạo được kỹ năng âm thanh trong cần lao vất vả, hòa đều để xua tan đi khó khăn và cũng là bớt đi sự đơn chiếc giữa núi rừng hoang vắng.

Và chiếc cối giã ấy được khoét từ cây săng lẽ có đường kính hơn nửa mét, phần trên họ khoét để đổ ngô, lúa, hoặc mì vào giã, phần đáy cũng khoét lỗ như phần chính nhưng nông hơn. Sàn nhà nơi đặt cối giã được khoét một lỗ to như quả đấm, nơi đó người đàn ông Mày lên núi đẵn cây chi cúp có tính đàn hồi, lấy cần đập mạnh tạo ra tiếng trầm bổng kỳ lạ. Phần cây chi cúp đó được chống đỡ phần đáy cối, từ sàn nhà xuống đất chừng 2m là thân chi cúp đỡ chiếc cối phía trên, ở phần chạm mặt đất của cây chi cúp, người Mày lấy miếng ván nhỏ chèn vào và bắt đầu giã lương thực mỗi ngày. Người phụ nữ Mày đảm đương việc giã gạo mỗi buổi sáng khi con nai chưa tác, cánh chim chưa vỗ, dữ chưa lên.

Những kỹ năng kì bí

Sâu trong rừng nguyên sinh Phong Nha – Kẻ Bàng (Bố Trạch, Quảng Bình), có một tộc người ẩn cư ở đó, họ chỉ có 400 khẩu, trong một bản, gọi là bản A Rem của người A Rem. Nếu người Rục đã được viện trợ làm lúa rẫy, anh em Mã Liềng biết cầm cuốc sản xuất, người Khùa, Mày dần biết bắt tay lao động theo nghĩa hiện đại thì tộc người A Rem vẫn đang giấu mình trong thế giới săn bắt hái lượm và phủ mình trong những kỹ năng huyền bí của riêng họ.

Người A Rem hoặc người Rục và cộng đồng Mã Liềng có tục thổi thắt, thổi mở hoặc hấp hơi rất bí hiểm. Khi chưa có y tế đến nơi, việc sinh đẻ tùy thuộc vào niệm chú của thổi thắt, nó nôm na như cách của người đương đại dùng khoa học cho sinh nở có kế hoạch. Vùng A Rem hiện có bà Y Thăm ngoài 80 tuổi là thầy thổi thắt nức danh cả vùng. Bà được thuyết phục làm thử, và khiên cưỡng đồng ý, tiếng A Rem lầm rầm khấn, bài chú đọc lên, bát nước đưa vào, những nguyên liệu được cho là cây thuốc rừng khô khốc cắt vào pha vào bát nước cùng bột từ ống lồ ô mài ra, tiếng khấn của bà cùng tiếng lồ ô rên xiết trên hòn đá khiến toàn thân tôi sởn gai ốc. Bà khấn chừng mười phút, theo những gì bà kể qua người dịch lại, thì uống xong bát nước này, phụ nữ quan hệ với chồng thì không có con. Muốn có con, họ lại phải gặp bà để thực hiện nghi thức thổi mở.

Khi các phương pháp chữa bệnh hiện đại với thuốc tây chưa vào với tộc người A Rem thì họ có những kỹ năng chữa bệnh kỳ lạ. Người gãy chân chỉ cần được thổi sẽ lành xương, người đau ốm liên miên được cho uống rễ thuốc từ cây rừng sẽ khỏi bệnh, họ còn có những phương pháp cai rượu, cai thuốc kỳ lạ mà cho đến nay khoa học khó lý giải. Để tránh thú dữ, họ niệm chú, vẽ một vòng tròn, nướng một loại vỏ cây rừng lên, đập ra rải xung quanh, hổ hoặc báo, gấu chẳng thể vượt qua. Trước khi đi săn, người A Rem lấy nọc độc từ một loài ếch cây, dùng kim của loài cây như chanh rừng châm nọc độc từ da ếch và nhỏ vào mắt, họ lên cơn buồn nôn vì nọc độc thâm nhập, nhưng sau đó thân thể trở lại thường nhật sau 15 phút ngấm thuốc, đôi mắt của họ trở nên tinh nhanh lạ kỳ và những cuộc săn như thế đều đưa lại kết quả ngoài sức đợi mong.

Những người anh em của chúng ta ở cách xa ánh điện văn minh, xa tít tắp những thành phố nguy nga, nơi họ sống với bao hà khắc của tự nhiên nhưng vốn sống và kỹ năng của họ gần như là vô tận.

Bài và ảnh: Quốc Nam


0 nhận xét:

Đăng nhận xét