Ở vùng đất Cố đô, khi Chúa Nguyễn Hoàng vào xứ Thuận Hóa đã mang theo ý thức của Phật giáo, hễ đi đến đâu cũng đều lập chùa. Ban đầu, ngôi chùa làng chỉ là một ngôi nhà nhỏ, được dựng bằng tranh tre nứa lá, và mãi đến sau này, ngôi chùa làng mới được xây dựng chắc chắn với những trang hoàng rồng, được đắp nổi sành sứ. Ngôi chùa làng đều được xây dựng ở những nơi có thế đất tốt, nằm ở vị trí đầu làng hay ở giữa làng. Vào thời nhà Nguyễn còn có hướng dẫn cụ thể về việc xây dựng chùa.
Chùa làng là nơi sinh hoạt bình đẳng, đó là nơi tụ tập cả làng, và ai cũng có thể đến chùa cầu nguyện. Ngày xưa, ngôi đình chỉ là nơi dành cho nam giới đến họp hành, còn chùa là nơi luôn mở mang cửa đón nhận thảy mọi người. Ngôi chùa làng đã in dấu trong tâm trí của bao đời với hình ảnh thầy trụ trì hiền lành với tiếng chuông chùa mỗi sớm, và mỗi chiều vang lên trong không gian quê thanh bình, hình như nhắc mọi người hãy sống thuận hòa, biết chăm lo cấy cày để có cuộc sống giàu có. Về mặt kiến trúc, ngôi chùa làng thường được xây theo kiểu kiến trúc chữ Công, chữ Đinh, hay chữ Tam tùy theo công đức đóng góp. Ngôi chùa làng thường không có cửa hoặc có cửa nhưng không bao giờ đóng, có khi nhà chùa chỉ xây dựng hai trụ biểu trưng trưng cho chiếc cổng. Vào ngày lễ lớn như rằm tháng Tư, lễ, Tết, nam nữ trong làng và những người lớn tuổi thường đến chùa lễ Phật và sau đó xin một lời Phật dạy được các thầy chùa trích ra từ những bài đế kinh những câu răn dạy lối sống ở đời như hai câu đối ở cổng chùa Giác Lương (Làng Hiền Lương-xã Phong Hiền-huyện Phong Điền) “ Vô diệt vôlap dat camera quan sat gia resanh tuy vạn kiếp nhất bất cổ. Nhược hiển nhược ẩn thông bách phước tứ vu kim” Tuy là chùa làng nhưng nhiều ngôi chùa có kiến trúc lớn. Trổi như chiếc cổng tam quan của chùa Giác Lương. Cổng chùa được xây theo lối kiến trúc vọng lâu, phía trên là lầu, phía dưới là cổng. Những chi tiết kiến trúc và trang trí trên chiếc cổng này đều cho người xem một cảm xúc hoài cổ. Vết thời kì để lại dấu rêu phong trên bề mặt nhưng vẫn không làm mờ nét tài ba mà người thợ xưa đã để lại trong từng chi tiết nhỏ. Ở mặt hổ phù và hoa sen được khảm sành sứ thật sống động gợi nhớ về nét tinh hoa của làng nghề khảm sành sứ ở Huế. Bên trong không gian này, chùa xưa đem lại sự bình an trong lòng người viếng cảnh. Chùa Giác Lương Trong đời sống cộng đồng của người dân Việt, chùa làng trở thành tâm điểm của cả làng. Vào các dịp lễ hàng năm, Tết người dân trong làng đến thắp hương nguyện cầu. Người dânlap dat camera gia re tai ha noiquê nhân đức cùng với những lời nguyện cầu mùa màng tốt tươi, cuộc sống ấm no hạnh phúc, cũng chính là lời cầu nguyện mẹ cha sức khỏe, và gia đình yên vui trong các ngày lễ lớn như Vu Lan. Chùa làng đã trở nên một mái ấm ý thức của cư dân cả làng. Ai cũng có thể đến đây thỉnh một tiếng chuông, và thắp hương lễ Phật, tìm sự bình yên và thư thái trong tâm hồn. Từ những dịp gặp gỡ tại chùa mà tình bà con, và tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn. Nếp sống của làng và của gia đình được gìn giữ bởi những vị trưởng tộc. Chùa làng cũng là nơi phát xuất nhiều danh sư. Như từ ngôi chùa làng An Khánh (thuộc làng Dã Lê Chánh – xã Thủy Vân – thị xã Hương Thủy) nhiều danh sư đã từng tu tập tại đây như nhà sư Nguyễn Văn Quý- trụ trì chùa Pháp Vân – nơi tổ chức cuộc biến động (nhà Nguyễn gọi là Giặc chày vôi) chống vua Tự Đức năm 1866, Hòa thượng Thanh Thái Huệ Minh (vị tổ thứ 4 chùa Từ Hiếu), Hòa thượng Giác Nhiên (Chùa Thuyền Tôn), Sư bà Diệu Hương (khai sơn ni viện Diệu Đức), Hòa thượng Thích Mật Hiển (chùa Trúc Lâm). Chùa làng còn là nơi gắn liền với nhiều danh nhân. Thuộc địa phận xã Hương Xuân – Hương Trà, Thanh Lương là một trong những làng cổ của Huế, nơi đây có nhiều người đỗ đạt cao và làm quan to. Ngôi chùa làng Thanh Lương được xây theo kiểu chùa cổ của Huế. Xa xưa, dân trong làng dễ dàng nhìn thấy chiếc cổng chùa xây theo lối cổ lâu (hai tầng). Đặc biệt, chùa làng Thanh Lương có thờ một danh nhân, ông Đặng Văn Hòa. Ông làm quan nhưng thấm nhuần đạo Phật, cúng dường nhiều chuông và tượng Phật cho các chùa ở vùng đất Hương Trà như chùa Bác Vọng Tây, Bác Vọng Đông, Hòa Viện, , Hiền Sĩ, Thanh Lương. Tại chùa làng Thanh Lương, ông Đặng Văn Hòa còn tiến cúng một tấm bia đá, phía trênlap dat camera quan sat re nhat ha noitấm bia này khắc ghi lịch sử của làng, và các vị khai canh, vỡ hoang và tiếng tăm những người có công. Mọi thứ đều còn nguyện vẹn cho đến ngày bữa nay. Ngôi chùa như là nơi chở che, và chia sẻ cũng như yên ủi con người trong những lúc vui buồn và cả chuyện buồn tử sinh. Thầy trụ trì chùa làng là người đứng ra toan tính về mặt linh tính, và cầu kinh cho người quá cố theo phong tục của những người theo đạo Phật. Cứ thế, tình cảm của dân làng và ngôi chùa làng cứ thế dày thêm theo năm tháng. Ngày nay, ngôi chùa làng ở các miền quê không còn cảnh “tranh tre nứa lá” mà đã được xây dựng kiên cố, và thờ phụng trang nghiêm- đó là một kiến trúc không thể thiếu ở các làng quê Việt. Đây là nơi mà mỗi ban mai hay khi hoàng hôn, tiếng chuông chùa ngân nga lưu giữ tình quê, cho ai dù ở bốn phương trời, nhớ về quê cũ vẫn mong được nghe một tiếng chuông chùa, ngắm nhìn làng quê trong buổi hoàng hôn với những cánh cò hấp tấp bay về tổ ấm. Báo Thừa Thiên Huế |
0 nhận xét:
Đăng nhận xét