Lượng khách du lịch đến địa phương trong dịp nghỉ lễ 2-9 năm 2013 đạt hơn 50.000 người, trong đó tham khảo có 37.000 khách đăng ký và click here chỉ khoảng 15.000 khách lẻ. Vài ngày trước đó, sở này đã dự đoán lượng khách đến sẽ đạt gần 60.000 lượt. Như vậy, so với các năm, lượng khách đến Huế vào cùng kỳ năm nay đã giảm mạnh. Đặc biệt là số lượng khách ngoại tỉnh đọc thêm thấp hơn nhiều so với dự trù. Căn do là đợt nghỉ lễ ngắn (ba ngày), rơi vào mùa tựu trường nên tại đây các gia đình thường hạn chế cho con đi du lịch. Trường bay tham khảo Phú Bài lại chưa hoàn tất nên lượng khách từ TP.HCM, Hà Nội… gặp khó khi muốn bay thẳng đến Huế. VIẾT LONG |
Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013
Khách du lịch đến Huế dịp 2-9 giảm
TP HCM ranh mãnh pháo hoa mừng Quốc khánh
Trời nhập nhoạng tối, hàng vạn lượt người đổ về những khu vực tiện quan sát bắn pháo hoa. Năm nay, TP HCM tổ chức màn trình diễn bắn pháo ở tầm xem thêm thấp tại hầm sông Sài Gòn (quân 2) và Công viên Văn hóa Đầm Sen (quận 11). Ghi nhận của nhóm phóng viên PetroTimes, những dòng người đổ về đến gần thời khắc khai màn pháo hoa mỗi lúc một đông. Các tuyến đường ra vào khu vực trên đều xảy ra cảnh ùn tắc. Những click here chùm pháo bông trước hết được bắn lên sáng rực bầu trời. Đúng chi tiết 21h, những chùm pháo đầu tiên bắn lên làm sáng rực bầu trời. Không khí hân hoan chào đón một ngày Lễ trọng đại của giang sơn như làm người dân phấn khích hơn. Những sắc màu pháo sáng hòa vào những màu sắc tinh quái làm cho người dân thêm phần mãn nhãn. Mọi read more người đứng ven đại lộ Võ Văn Kiệt để xem màn trình diễn pháo bông. Lực lượng CSGT được điều động chốt chặn ở những tuyến đường để giải quyết tình trạng ùn tắc kéo dài. Chấm dứt màn biểu diễn pháo bông, người dân đã ra về trong trật tự dưới chi tiết sự điều tiết của lực lượng chức năng. Những tuyến đường đã thông thoáng chỉ sau một giờ đồng hồ. Đ.H |
Người mở đường “lên trời” ở Đông Trường Sơn
Tới Tây Giang, bạn sẽ được nghe bất kỳ người dân nào kể say sưa về những huyền thoại của già làng Cơ Lâu Blao một cách đầy kiêu hãnh. Huyền thoại về việc khôi phục nghề làm áo từ vỏ cây. Huyền thoại về việc truyền dạy nghệ thuật khắc tượng nhà Gươi, nhà Mồ cho lớp thanh niên.
Khi ước mong trở nên ám ảnh Bên bếp lửa bập bùng ở ngôi nhà Dài truyền thống của người Cơ Tu, già làng Cơ Lâu Blao bằng chất giọng trầm khàn đầy âm điệu như người hát sử thi bắt đầu kể về câu chuyện 35 năm trước. Đó là năm 1977, ông Blao khi ấy là y sĩ của làng. Ông nói rằng người Cơ Tu mình cực lắm, không có đường như hiện để đi, muốn đi lại giữa các thôn, các bản thì phải trèo núi vượt khe, phạt cây rừng làm mốc thậm chí có bà con đã từng vong mạng bởi sự heo hút của núi, rừng. Thành thử mà ông luôn ao ước người Cơ Tu mình có được một con đường đi thực thụ, để bà con đi lại được an toàn và tiện lợi hơn. Xưa kia ở vùng núi Đông Trường Sơn này, bà con các xã Tr’Hy và các xã như AXan, Ch’Ơm và Ga Ry muốn xuống được trọng điểm huyện Tây Giang (xã Lăng) phải đi bộ ròng 2 đến 3 ngày. Năm 1977 khi sáp nhập hai huyện Tây Giang và Đông Giang thành huyện Hiên thì trọng tâm huyện được di dời về thị trấn P’Rao ngày nay, bà con muốn xuống trung tâm cũng phải đi mất 4 đến 5 ngày mới tới nơi. Đường đi hiểm trở, nguy hiểm rình rập khắp mọi nơi thành thử mà bà con ít ai dám đi lại trên trục đường ấy, chỉ có cán bộ của các buôn làng về thị trấn họp buộc phải “cơm đùm cơm nắm” mà đi. Qua hồi tưởng của già làng Blao, mỗi lần đi họp như thế trên vai ông lúc nào cũng trĩu nặng đồ ăn thức uống được chuẩn bị cho một tuần cùng với cái rựa để vừa đi vừa phát cây làm lối. Băng qua các khe suối bờ vực lúc nào cũng ngơm ngớp sợ trượt chân ngã xuống. Đó là còn chưa kể tới những cơn mưa nguồn ở đây dằng dai suốt hàng giờ. Những lúc như thế lũ ống có thể bất thần đổ ầm bên tai, tựa như những cửa sông sẽ cuốn đi tất thảy mọi thứ trên đường đi. Qua bao lần ấy, nỗi ước mong túc trực về một con đường đã biến thành nỗi ám ảnh. Ông Blao đã bắt đầu nấu nung ý tưởng tự tay mình mở ra một con đường mà từ đó nó sẽ mang lại cho dân bản cuộc sống no đủ.
Mở đường bằng ý chí Bằng chi tiết ý chí, lòng quyết tâm sắt đá, tới cuối năm 1977 già làng Blao bắt tay vào làm đường. Phải đối mặt với vô vàn khó khăn, trước những mảng kiến thức còn quá cỡ lạ lẫm với những người Cơ Tu, nào là số học, căn chỉnh, kẻ vẽ, góc nghiêng độ dốc… những lúc ấy già làng Blao gần như vô vọng, nhưng rồi ông lại tin rằng: “Giàng đã bảo mình làm thì phải làm cho được”. Vậy rồi người “Y sĩ của bản làng” khi ấy mới chừng 34 tuổi đã tìm ra được chút ánh sáng cho niềm tin về một con đường theo cách thật… đại ngàn. Dọc theo con đường rừng xuống trung tâm huyện mà già làng Blao vẫn thường đi, ông tìm những cây cao nhất rồi trèo lên để có tầm nhìn xa hơn, để mường tưởng và “kẻ vẽ” trong trí tưởng mình con đường trong ngày mai. Tại mỗi chân đồi, sườn núi đều có một cây được chọn làm mốc mở lối cho con đường ước mong. Các cây lớn dùng để làm mốc, cây nhỏ được phạt đi dần tạo thành một con đường mòn. Ròng như vậy suốt bốn năm, rút cục con đường đã hiện hình ở đây và ý nghĩ về một con đường thực sự đã được Blao đem ra diễn tả với bà con dân bản và cán bộ xã Tr’Hy. Công trình huyền thoại Đường đã mở, “bản vẽ kỹ thuật” đã sẵn sàng nhưng phải tận cuối năm 1981 quyết định mở đường mới được duyệt. Thêm một lần nữa Blao lại thoăn thoắt dẫn đoàn khảo sát đi “nghiệm thu” công trình huyền thoại của mình. Để rồi tới nửa cuối năm chi tiết 1982, gần 500 con người với đủ các thành phần từ cán bộ xã cho tới thanh niên, bà con dân bản quãng một lòng đi theo ông mở ra con đường nối thôn Voòng với Lăng. Với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, Blao đi trước làm dấu mở đường, nhóm “công nhân” đi sau chia theo từng thôn, mỗi thôn làm đoạn đường mà mình được phân công. Sau bao khó khăn, con đường rộng 1m, dài 37km nối Tr’Hy tới trung tâm huyện đã hình thành trong niềm hân hoan. Kể từ ngày con đường được mở ra, việc đi lại trở thành dễ dàng hơn, việc giao lưu giữa các thôn bản diễn ra thẳng tính hơn. Công cuộc thông thương giữa đồng bào Cơ Tu với đồng bào các dân tộc khác cũng dần hình thành, thành ra mà cuộc sống đã đổi khác. Ông Blao vui lắm, không phải bởi dân bản đã lấy tên ông đặt cho con đường này mà bởi từ nay bà con bị thương, bị bệnh sẽ được chuyển tới trạm y tế chóng vánh để được cứu chữa kịp thời. Thế mới biết trái tim của người y sĩ, của người con đại ngàn mông mênh vĩ đại tới chừng nào, nó hình như đã ôm trọn được cả núi rừng Trường Sơn hùng vĩ bằng thứ ái tình giản dị vô ngần. Tuấn Linh |
Chuyện lạ VN: Giếng thiêng nghìn tuổi sủi bọt như nước sôi
Mảnh đất Xuân Dục (huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) chứa đựng nhiều điều huyền bí. Từ câu chuyện tượng đất hóa tượng vàng, đến chiếc giếng hàng nghìn năm nay vẫn sủi bọt như người đun nước sôi... Truyền thuyết chùa Sùng Bảo và lễ hội cầu mưa Về thôn Xuân Nhân, xã Xuân Dục chúng tôi được các cụ cao niên kể truyền thuyết về ngôi chùa cổ Sùng Bảo. Cụ Phan Đình Thư (85 tuổi) kể: Chùa Sùng Bảo có từ thời Đinh Tiên Hoàng, cách nay khoảng 1.500 năm. Tục truyền rằng, các mục đồng đi chăn trâu thường lấy đất sét nặn thành các pho tượng, lấy lá chuối dựng thành cái lều để chơi đồ hàng. Nhưng một đêm, trời mưa to, gió lớn, sấm sét đánh ầm ầm. Sáng hôm sau mục đồng và người đi làm đồng bỗng thấy những pho tượng nặn bằng đất hóa thành tượng vàng. Từ đó người dân nơi đây gọi những bức tượng đó là tượng Đức Phật bà Đồng Quân và mang vào chùa Sùng Bảo thờ cúng. Cụ Thư bảo, bao đời nay người dân trong vùng vẫn lưu truyền những câu chuyện liên quan đến Đức Phật bà Đồng Quân. Trong đó có kể về việc vua Đinh Tiên xem thêm Hoàng từng đi đánh giặc vào lễ tại chùa Sùng Bảo, nhờ Đức Phật bà Đồng Quân phù hộ mà quân ta được giải vây trước sự truy sát của quân thù. Và nhờ bà mà nhân dân trong vùng xưa kia có nước để sản xuất. "Trước những năm 1950, khi đó chưa có hệ thống thủy lợi, việc cấy cày phụ thuộc vào nguồn nước thiên nhiên. Bởi thế, khi hạn hán xảy ra là người dân không thể sinh sản. Chính vì vậy, người dân đã lập đàn cầu mưa và rước tượng Đức Phật bà Đồng Quân từ chùa Sùng Bảo đi khắp các đồng ruộng của thôn. Lễ rước diễn ra linh đình từ 3 - 5 ngày, thậm chí là cả tuần, khi nào mưa mới chấm dứt", cụ Thư cho biết. Nhờ Đức Phật bà Đồng Quân phù hộ mà hễ năm nào hạn hán kéo dài, người dân lập đàn tế lễ, cầu mưa cũng đều được. Do đó việc sản xuất được tiện lợi.
Nghìn năm giếng vẫn sủi bọt Cụ click here Thư cho hay, ở thôn Xuân Bản có cái giếng cổ nghìn tuổi, trước đây là "nguồn sống" cho người dân quanh vùng. Giếng thiêng đến nỗi, xưa kia Cao Biền người Trung Quốc từng sang để yểm bùa, triệt phá long mạch của giếng, nhưng cuối cùng thất bại. Người dân thường gọi là giếng Sủi bởi lẽ, quanh năm suốt tháng nước sủi lên mặt nước, như người ta đun nước sôi. Nước giếng không bao giờ cạn, trước đây trong vùng từng có những đợt hạn hán khốc liệt, nhưng nước giếng vẫn luôn đầy ắp. "Theo như các cụ trong làng kể lại, xưa kia khi đào giếng dân làng nhờ thầy phong thủy cao tay trong vùng, xem long mạch một cách cẩn thận. Thế nên mới đào được giếng có nguồn nước vô tận cho người dân sử dụng. Trước đây, các gia đình trong thôn mỗi ngày cũng gánh hàng chục gánh nước về để ăn uống sinh hoạt, nước gánh đến đâu lại sủi bọt lên và đầy ắp", cụ Thư cho biết. Trước những năm 1960 khi đó người dân thấy nước giếng sủi bọt lên nhiều quá, liền mang cối đá, vật dụng trong gia đình ném xuống giếng để cho nước trong hơn. Nhưng càng ném các đồ vật xuống giếng, mặt nước càng sủi mạnh hơn. Cũng trong tuổi này nhiều người dân trong thôn bị bệnh phù chân khiến nhiều người hoang mang. Ngành y tế khi đó đã về khảo sát và cho rằng căn nguyên của chứng bệnh này do người dân dùng nguồn nước giếng có khí mê tan. Nước giếng sủi bọt có thể là do khí mê tan dưới lòng đất trào lên. Sau đó chính quyền khuyên người dân không nên ăn nước giếng đó nữa và vận động họ đào giếng ăn gia đình.
Ông Phan Bính Tân, bí thơ Đảng ủy xã Xuân Dục xác nhận, các cụ cao niên trong vùng vẫn nói giếng Sủi ở thôn Xuân Bản được ví như bụng của một con rồng. Thành thử, nước ở giếng không bao giờ cạn. Trước đây nước giếng sủi bọt lên nhiều, người dân trong thôn mang cối đập lúa ném xuống để ngăn chặn mạch nước sủi, nhưng cũng chỉ giảm được một phần nào đó. Người dân quanh vùng nhiều người độn hóa giếng. Nhưng sau này các nhà khoa học về thôn, họ rà soát xác định ở giếng có một mạch khí mê tan. Do vậy, nước giếng luôn sủi bọt. Các nhà khoa học đã tìm hiểu, xác định mạch nước giếng đó được bắt nguồn từ huyện Khoái Châu chảy về. Họ mang cả giàn khoan về thôn, khoan xuống hàng trăm mét dưới lòng đất để kiểm tra nguồn khí. Bởi họ nghi đây là nguồn khí hiếm có thể sử dụng trong công nghiệp. Nhưng khi dò xét thấy lượng khí nhỏ, họ không khẩn hoang nữa.
Tướng Nguyễn Thiện Thuật và cây đề thiêng Ông Nguyễn Xuân Đảng, quản lý khu di tích cách mệnh Nguyễn Thiện Thuật chỉ tay về phía cây đề và nói cây đề có từ thời danh tướng Nguyễn Thiện Thuật, lãnh tụ khởi nghĩa Bãi Sậy. Xưa kia ông đã dùng cây làm vọng gác tiền tiêu, ông trèo lên trên ngọn cây để theo dõi quân giặc. Cụ Thư cho biết, xưa kia người Tàu biết được đất Xuân Dục là nơi án ngữ long mạch rất quan yếu. Thành ra đã sai Cao Biền sang đây yểm bùa, trấn yểm long mạch. Nhiều lần Cao Biền sang trấn yểm long mạch ở chùa Sùng Bảo và giếng Sủi nhưng đều thất bại. Từ đó đã cho binh lính mai phục và diệt được nhiều quân địch. Ông Đảng bảo, những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Hưng Yên và nhiều tỉnh trong vùng bị bom đạn đánh phá dữ dội. Khi đó xã Xuân Dục bị thiệt hại nặng nề, có thôn gần như nhà cửa bị phá hủy hoàn toàn. Nhiều cây cối bên cạnh cây đề bị tàn phá bởi bom đạn. Nhưng không hiểu tại sao, nhờ sức mạnh vô hình nào đó mà cây đề vẫn đứng vững. Người dân thì cho rằng cây rất khôn thiêng, do vậy chẳng thể có một thần thế nào có thể xâm phạm. Đó không chỉ là cây cổ thụ của người dân xã Xuân Dục mà còn là một di sản mang tầm nhà nước. Ông Đảng đưa chúng tôi vào khu tưởng niệm danh tướng Nguyễn Thiện Thuật và kể: "Năm 2005, đại diện chính quyền tỉnh Hưng Yên và các cơ quan Trung ương đã sang tận TP Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc để đưa xác của cụ Nguyễn Thiện Thuật về đây truy điệu. Tôi chưa từng thấy lễ chôn cất của ai mà trọng thể và uy nghi như vậy. Khi đó xác của người đưa về đây vẫn còn nguyên lành. Tôi nghe mọi người nói đó là nhờ phía Trung Quốc tại đây họ bảo quản, ướp xác cụ Thuật bằng dược liệu quý". Ngôi cổ tự Sùng Bảo cùng với cây đề cổ thụ gắn liền với tăm tiếng nhà ái quốc - tướng công Nguyễn Thiện Thuật, người con quê hương Xuân Dục, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Cây đề cổ thụ là vọng gác tiền tiêu của nghĩa quân Bãi Sậy đã được xác nhận là 1 trong 3 cây cổ thụ được xếp hạng Di tích quốc gia (cây đa Tân Trào, cây đào Tô Hiệu, cây đề Xuân Nhân). Cùng với nó, ngôi chùa Sùng Bảo đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp nhà nước. Ông Phan Bính Tân (Bí thư Đảng ủy xã Xuân Dục) Đức Lợi |
Nhiều hoạt động văn hóa thể thao trong ngày Quốc khánh
Khu du lịch Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương) đón chào du khách với chương trình “Chào mừng đại lễ Quốc khánh 2-9” phục vụ du khách xa gần với nhiều hoạt động vui chơi giải trí, văn nghệ sôi động. Tối tại đây 2-9, Nhà Văn hóa Thanh niên TPHCM tổ chức chương trình âm nhạc “Quê hương và tuổi trẻ” trình diễn những sáng tác nhạc truyền thống cách mệnh, các ca khúc ngợi ca tình quê hương đất nước… Sáng 2-9, đọc thêm trên sông Hương, đoạn trước di tích Nghinh Lương Đình (TP Huế) diễn ra giải đua ghe và thuyền rồng. Ngoài 8 ghe đua truyền thống, hàng vạn người dân và du khách trong và ngoài nước hồ hởi, huých với sự dự của các tay đua ganh tài bằng 6 thuyền rồng. Giải đua tạo sân chơi lành mạnh, đáp ứng nhu cầu vui chơi của nhân dân trong dịp lễ Quốc khánh 2-9. Cùng ngày, tại phường Tây Lộc, TP Huế diễn ra Hội thi đua tham khảo ghe phòng chống bão lụt. Trên sông Ngự Hà dọc theo đường Trần Văn Kỷ, 12 đội thi đến từ 8 khu vực dân cư, lực lượng công an, tự vệ, ban bảo vệ dân phố và ban quản lý chợ Tây Lộc tranh tài sôi nổi trước sự cổ vũ nhiệt thành của đông đảo người dân. Cùng ngày, UBND huyện miền núi Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức Giải đua thuyền truyền thống lần thứ 12 trên lòng hồ Bình Sơn, với sự dự của 13 đội (9 đội nam, 4 đội nữ) đến từ 13 xã, thị trấn trong huyện. Sau read more hơn 4 giờ thi đấu sôi nổi, vượt qua chặng đường đua 3.200m đối với nam và 1.600m đối với nữ, ban tổ chức đã trao giải nhất nam cho đội đua UBND xã Hương Thủy, giải nhất nữ cho đội đua UBND xã Lộc Yên. NHÓM PV |
Chuyện xúc động ở Lăng Bác chiều 2/9
Chiều 2/9, mặc dù trời vẫn phân phất mưa nhưng hàng trăm người vẫn có mặt trên Quảng trường Lăng Bác. Lúc này, Lăng đã đóng cửa. Những người đến muộn không thể vào viếng Bác nên đã xếp hàng ngoài Quảng trường, đợi đến lượt được nhận những nén hương dâng lên Bác. Không khí ở đây rất xúc động. Mỗi người nhận một nén hương từ tay những viên chức bảo vệ Lăng, kính cẩn cúi mình và trân trọng cắm lên lư hương lớn được để trước cửa Lăng. Trong đoàn người thắp hương, có một người đàn ông mặc bộ áo xống cũ kỹ, thậm chí khá nhàu nát, chân đi đôi dép cũng cũ kỹ không kém. Khuôn mặt người đàn ông này rất khó đoán tuổi, hiện rõ sự vất vả của một người cần lao phổ quát. Tay cắp nách một chiếc túi ni lông, người đàn ông ngước khuôn mặt khắc khổ nhưng ánh nhìn lại rất rạng rỡ, thành kính lẩm bẩm một bài thơ... Khấn Bác.
Anh cho biết tên mình là Nguyễn Hữu Hỏi. Quê anh ở Xã Yên Hưng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Do đọc thêm hoàn cảnh gia đình khó khăn, anh ra Hà Nội để đi làm thợ nề. Cách đây ít ngày, anh đã vào Lăng viếng Bác. Tuy nhiên, hôm nay, nhân ngày Tết Độc lập, anh không về quê nên một mình lại ra đây thắp hương viếng Bác. “Mới hôm nọ tôi vào viếng Bác rồi, thấy Bác rất khoác. Ngày hôm nay, tôi đến đây vì thấy nhớ công ơn của Bác để toàn dân được ấm no, hạnh phúc, để cho con cháu hiện tại được tự hào, sung sướng” – anh Hỏi xúc động nói, đôi mắt rưng rưng lệ. Người đàn ông chất phác này cũng cho biết, cố định khi có dịp, anh sẽ đưa cả vợ con anh vào Lăng viếng Bác. Cũng như anh Hỏi, chị Tống Thị Hương, ở Thiên Phương, Chương Mỹ (Hà Nội) cho biết, vì buổi sáng trời mưa to nên chiều nay, khi mưa ngớt, vợ chồng chị mới mặc áo mưa chở nhau đi quãng đường hơn 20km để vào Lăng viếng Bác. Tuy nhiên, khi ra đến nơi đã muộn, Lăng đóng cửa, anh chị đành đứng trước cửa Lăng “vái vọng”. “Nhà tôi lúc nào cũng bận, chỉ có bữa nay khoan thai một chút nên vợ chồng rủ nhau đến đây thắp nén hương viếng Bác” – chị Hương vui vẻ nói. Trong khi đó, một gia đình gồm cả vợ, chồng và mấy đứa con, đọc thêm cháu ở phố Nguyễn Chí Thanh ngồi chơi trên Quảng trường cũng cho biết, chiều nay, thấy trời ngớt mưa, cả gia đình anh chị đến đây và đã vào thắp hương “báo công” với Bác. “Chúng tôi đã thắp hương rồi, “báo công” với Bác rồi, giờ ra đây ngồi chơi cho thanh thản” – người chồng nhanh nhảu nói. Lúc này, trên Quảng trường cũng có rất nhiều bạn trẻ đến thắp hương read more viếng Bác. Một nhóm bạn cho biết, họ là sinh viên của trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật Trung ương. Nhân ngày 2/9, các bạn muốn đến đây để hưởng không khí của Tết Độc lập.
“Đã nhiều năm nay, năm nào tôi cũng đến đây vào dịp 2/9. Có năm thì vào trong "gặp" Bác, có năm chỉ đứng ngoài thắp nén hương. Nhưng lần nào tôi cũng thấy rất xúc động.” – Một bác cựu chiến binh, nhà ở phố Cầu Giấy chia sẻ.
Tuệ Khanh - (bài, ảnh) |
Năm 2020, có ít nhất 6 điểm du lịch biển tầm cỡ quốc tế
Nước ta có bờ biển trải dài 3.260km dọc Bắc - Trung - tại đây Nam, trên lãnh hải có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Dọc bờ biển Việt Nam có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch, với bãi thoải, nước trong xanh, khí hậu ôn hòa và phong cảnh thiên nhiên kỳ thú. Tuy thế, cho đến nay, cả nước ta mới có trên 30 bãi biển và 10 hòn đảo được đầu tư và phá hoang phát triển du lịch. Do đó, để phát huy tối đa tiềm năng du lịch biển click here sẵn có, cần một chiến lược cụ thể và lâu dài. Theo đề án, 6 điểm du lịch biển tầm cỡ được hướng đến là Hạ Long - Bái Tử Long - Cát Bà, Lăng Cô - Cảnh Dương, Hội An - đảo Chàm, Nha Trang - Cam Ranh, Phan Thiết - Mũi Né và Phú Quốc; hình thành và bước ở đây đầu đi vào khai hoang một số cảng du lịch: Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, TPHCM và Phú Quốc. Bên tham khảo cạnh đó, đề án cũng đưa ra các chỉ tiêu cụ thể như đến năm 2020, du lịch biển Việt Nam phải lôi cuốn khoảng 22 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 58 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ du lịch biển đạt trên 200.000 tỷ đồng, tương đương 10 tỷ USD; tạo ra 600.000 việc làm trực tiếp và 1,1 triệu việc làm gián tiếp… chi tiết Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển du lịch biển đến năm 2015 là hơn 114.000 tỷ đồng, tương đương 5,57 tỷ USD; đến năm 2020 là 145.000 tỷ đồng, tương đương 7,08 tỷ USD. MAI AN |